Lũy Thầy

0
12
Cầu Long Ðại núi Thần Ðinh
Subscribe to our newsletter

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

 

Thành lũy cổ ở Việt Nam thường gắn liền với tên địa danh hay tên một triều đại, như thành Cổ Loa, Nhà Hồ, thành Kẻ hạ, thành Quảng Trị, thành Hóa Châu (Thừa Thiên), Châu Sa (Quảng Ngãi), Ðồ Bàn…

Riêng lũy Thầy thì khác, Thầy không phải địa danh, không phải tên người mà là chức vị: Thầy (giáo).

Lũy Thầy ai đắp mà cao
Sông Gianh ai bới ai đào mà sâu

Ðó là hai câu ca dao mà bất cứ người dân Quảng Bình nào cũng thuộc. Sông Gianh và lũy Thầy là phòng tuyến chận quân Ðàng ngoài suốt mấy mươi năm Trịnh Nguyễn phân tranh. Lũy Thầy gắn liền với nhà quân sự tài ba Ðào Duy Từ. Ông là người xã Hoa Trai, huyện Tỉnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Lũy Thầy là một hệ thống gồm 3 lũy do Ðào Duy Từ và con rể Nguyễn Hữu Tiến trực tiếp chỉ huy xây dựng:

Lũy Trường Dục

Ðược xây dựng vào năm 1630 từ núi Thần Ðinh men dọc theo bờ sông Long Ðại, qua các làng Trường Dục, Xuân Dục, Cổ Hiền, chạy vòng xuống đến làng Bình Thôn, Quảng Xá rồi đến vùng động cát đầu phá Hạc Hải. Lũy được đắp bằng đất sét chân Lũy rộng 6m, dài 10 km, cao 3m. Lũy Trường Dục nay thuộc huyện Quảng Ninh.

Lũy Nhật Lệ (Trấn Ninh – Ðông Hải)

Ðến năm 1631, chúa Nguyễn tiếp tục cho xây Lũy Ðộng Hải cách lũy Trường Dục 20 km về phía Bắc. Lũy cao tầm 6m, dài hơn 12 km, phía ngoài được đóng cọc bằng gỗ lim, phía trong đóng cọc tre, đổ đất lên 5 tầng cấp, voi ngựa có thể đi được. Cứ cách 12 đến 20 mét lại xây một pháo đài đặt súng thần công, cách một trượng (4 mét) lại đặt một súng phóng đá. Lũy Nhật Lệ (Ðộng Hải Trấn Ninh) được chia làm 2 đoạn:

Ðoạn thứ nhất chạy từ núi Ðầu Mâu, dọc theo nam sông Lệ Kỳ ra đến cầu Dài ở phía nam Ðồng Hới. (Ðoạn này còn gọi là lũy Ðầu Mâu)

Ðoạn thứ hai tiếp nối với lũy Ðầu Mâu, chạy từ cầu Dài, vòng sang phía Tây thành Ðồng Hới, bọc lấy làng Ðồng Phú, qua Hải Thành ra đến cửa sông Nhật Lệ.

Lũy Nhật Lệ nay thuộc địa phận các xã Phú Hải, Ðồng Phú, Hải Thành (thành phố Ðồng Hới). Lũy Nhật Lệ dài 3000 trượng (12km) từ Ðầu Mâu đến cửa Nhật Lệ hiện nay chỉ còn lại 3 cửa:

– Cửa Tấn Nhật Lệ

– Cửa Lý chính Ðại quan môn, sau đổi là Võ Thắng Quan, còn gọi là cổng Thượng. – Cửa vào Dinh Quảng Bình còn gọi là Quảng Bình Quan. Trong 3 cửa, Quảng Bình Quan là được xây dựng kiên cố và cao lớn đồ sộ nhất, nhằm tăng cường thêm sức mạnh phòng thủ và tiện cho dân chúng đi lại trong thành. Quảng Bình Quan được vua Minh Mạng cho xây dựng lại bằng gạch đá vào năm 1825. Cổng có kích thước dài 2 trượng 1 thước (8,4m), rộng 2 trượng 5 thước (10m), cao 5 thước (2m).

Các thành lũy ngày xưa thường bố trí 4 cửa theo 4 hướng Ðông, Tây, Nam, Bắc: Tiền, Hậu, Tả, Hữu; duy thành này chỉ có 3 cửa (cửa Tả, Hữu, Hậu, không có cửa Tiền). Ðây cũng là một điểm rất khác lạ về cấu trúc của thành lũy.

Ghi về cửa này, sách Ðại Nam nhất thống chí chép: “Cửa quan dài 2 trượng 1 thước; ngang 2 trượng 5 thước; thành ngoài che chắn hộ vệ, cửa quan dài 14 trượng 6 thước, cao 3 thước. Năm Minh Mạng thứ 6 xây bằng đá; năm thứ 7 (1826), đặt tên Quảng Bình Quan; năm thứ 17 đúc xong Cửu đỉnh, lấy hình tượng cửa thành khắc lên Nghị đỉnh”.

Năm Thiệu Trị thứ 2, xa giá Bắc tuần, qua Quảng Bình Quan, nhà vua có thơ ngự chế chạm vào đá, sai dựng nhà bia ở bên ngoài cửa thành để lưu niệm.

Ngày nay Quảng Bình Quan đã được trùng tu tôn tạo lại đẹp đẽ, uy nghi ngay cạnh quốc lộ 1A qua trung tâm thành phố (đường Quang Trung) cách Cầu Dài chừng vài trăm mét về phía Bắc. Quảng Bình Quan là di tích lịch sử hàng đầu của Quảng Bình không dùng để qua lại mà dành cho du khách chiêm ngưỡng.

- Advertisement -

Lũy Trường Sa

Năm 1634, Chúa Nguyễn lại sai tướng Nguyễn Hữu Dật tổ chức đắp lũy Trường Sa (Lũy Ðồng Hới), dài 7 cây số chạy dọc ven biển, từ Sa Ðộng xã Hải Ninh (huyện Quảng Ninh) đến Huân Cát (Bảo Ninh hữu ngạn sông Nhật Lệ ngày nay).

Hệ thống này gồm bốn tòa lũy, trong đó hai lũy Nhật Lệ và Trường Dục được xây trong giai đoạn 1630-1631 dưới sự chỉ huy của Ðào Duy Từ, còn hai lũy kia do học trò của ông là tướng Nguyễn Hữu Dật thực hiện (1634, 1661).

Trong suốt cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn, Lũy Ðào Duy Từ đã phải chống trả nhiều cuộc tấn công ác liệt từ Ðàng Ngoài của quân Trịnh và chưa bao giờ bị thất, ngược lại đã giáng cho quân Trịnh nhiều đòn đau.

Năm 1633, chúa Trịnh Tráng kéo quân đến cửa biển Nhật Lệ dàn trận, bị quân chúa Phúc Nguyên đánh cho đại bại, quân Trịnh hoảng loạn vứt bỏ xe pháo chạy về Bắc.

Năm 1648, chúa Trịnh Tráng lại sai Lê Văn Hiểu đem quân tấn công phục thù, quân Nguyễn do cha con Trương Phúc Phấn chỉ huy cố thủ tại Lũy Trường Dục. Thế tử Phúc Tần và Nguyễn Hữu Tiến mang quân ra Quảng Bình cứu viện và đã đánh tan quân Trịnh. Quân Trịnh thua to: 3 tướng và 3000 lính bị bắt làm tù binh.

Năm 1672, chúa Trịnh Tạc lại dồn toàn lực đánh vào Ðàng Trong sau khi đã diệt được họ Mạc ở Cao Bằng (1667). Trịnh Căn chỉ huy thủy binh, Lê Thì Hiến bộ binh. Với lực lượng hùng hậu như thế, quân Trịnh đã tiến đánh vào Lũy Nhật Lệ do Nguyễn Hữu Hiệp chỉ huy, cùng Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Mỹ Ðức ra chống cự, chúa Phúc Tần đích thân tiếp ứng. Ðây là trận giao chiến ác liệt nhất trong lịch sử Trịnh Nguyễn phân tranh. Quân Trịnh dồn toàn lực, đánh lũy mấy lần vẫn không hạ được Nguyễn Hữu Dật đành phải rút về Bắc Bố Chính.

Vua Thiệu Trị đi qua hệ thống Lũy Thầy hùng vỹ này rất khâm phục trước công lao tổ tiên, đã ban cho lũy này tên mới là “Ðịnh Bắc trường thành” (bức tường thành giữ yên mặt Bắc).

Mới đây tình cờ đọc được bài viết về Lũy Thấy trên báo Giáo Dục online có bài nói về Lũy Thầy làm tôi vui bất ngờ. “Lũy Thầy – 400 năm còn một chút này”, trong bài có đoạn: “Ðến năm 1994, Lũy Thầy được phục hồi lại nguyên trạng và Quảng Bình Quan đã được công nhận là di tích Quốc gia vào năm 1992. Ban đêm, đèn thắp sáng, nhìn Quảng Bình Quan rất đẹp…”

Ðồng Hới Quảng Bình không lạ gì đối với tôi, do là nơi chôn nhau cắt rốn nên khi có diều kiện trở lại quê nhà, tôi đã đi thăm, tìm hiểu gốc gác của mình khá nhiều: Núi Thần Ðinh, Suối Bang, thành Kẻ Hạ, Bơi đua Kiến Giang, Ghềnh Ðá Nhảy, Linh Miếu Cảnh Dương, động Phong Nha, động Thiên Ðường và tất nhiên không thể thiếu Ðịnh Bắc Trường Thành, với tên thân mật là Lũy Thầy.

Tôi nhờ anh bạn nhiếp ảnh, anh Võ Hữu Ngụ đưa đi xem những gì Lũy Thầy còn lại. Tôi theo anh quanh co qua mấy đường làng, qua một cầu sắt, đến một đường đê cao hơn mặt ruộng chừng 1 mét, rộng cũng bấy nhiêu, cây bạch đàn um tùm. Dừng lại, anh cho biết đây là một đoạn của Lũy Thầy. Tôi thật không ngờ, ngày xưa lũy cao 3m, mặt rộng 6m, bây giờ không hơn gì bờ ruộng và rồi ngày càng teo do người dân xén bớt dần. Ði về hướng Tây một đoạn, gặp một cổng thành thật xưa, rêu đã phủ đen, anh Ngụ bảo “đây là Võ Thắng Quan”, một trong ba cửa của Lũy Thầy. Cổng trông cũng còn vững chắc, tuy nhiên, gạch hai bên đã bị gỡ khá nhiều. Hỏi chuyện bác nông dân gần đấy, bác cho biết đêm bác ra ngủ canh ở đây. Bác nói gạch bị gỡ là do ngày Tết dân chúng lấy về làm bếp nấu bánh tét.(!)

Sau đó tôi trở lại Ðồng Hới tìm “cửa Tấn Nhật Lệ”.

Theo một số tài liệu thì “cửa Tấn Nhật Lệ” nằm trên đường Quách Xuân Kỳ, thực tế là ở đầu ngỏ 77 đường Trương Pháp. Ðây chỉ là một ngọn đồi cao cây xanh phủ kín. Trên đỉnh đồi có tháp hải đăng. Thử xem “di tích” còn gì thì thấy toàn công trình mới xây. Mấy bậc cấp lên đồi trơ gạch cũ, nhưng cũng không chắc dấu tích của thành lũy xưa. Dưới chân đồi, sát lề đường có bia ghi: “Phòng tuyến Nhật Lệ được xây dựng vào năm 1631 có chiều dài 12km, cao 6m, rộng 6m thuộc hệ thống lũy Ðào Duy Từ.

Nơi đây đã từng diễn ra các cuộc giao tranh quyết liệt của hai thế lực Phong Kiến Trịnh Nguyễn trong gần 50 năm của cuộc nội chiến.”

Hỏi bạn, “Lũy Thầy được phục hồi lại nguyên trạng” chỗ nào, anh bảo “phục hồi gì đâu, chắp vá lại Quảng Bình Quan thì có”.

Với lịch sử, Ðào Duy Từ là một thiên tài không những về thao lược quân sự mà ông còn là bậc uyên bác về thơ ca nhã nhạc. Những công trình và những tác phẩm của ông người đời sẽ tôn vinh nhớ mãi. Ðiều ai cũng thấy là ông có thực tài, tài ông vượt hẳn trên mọi người, phường đối nghịch cũng phải khâm phục. Không như kẻ vô tài bất tướng, bằng cấp “dỏm giả”, tiền nhiều chức lớn, nắm quyền chỉ để bức hiếp dân lành.

Ngày nay, Lũy Thầy không còn nguyên vẹn như thời xưa, nhiều đoạn đã bị mất hẳn do thời gian bào mòn và chiến tranh tàn phá, và do chính chúng ta, nhiều thế hệ đi qua không biết bảo tồn, ngược lại, phá của công làm của tư. Với nền giáo dục hiện nay (hồng hơn chuyên) thì rồi những “di tích trong sách đỏ” sẽ biến mất một ngày không xa.

 

Trần Công Nhung